|
MỪNG XUÂN ĐINH DẬU 2017
NHỮNG NĂM DẬU TRONG LỊCH SỬ GIÁO HỘI TẠI VIỆT NAM (*)
Theo Khâm
định Việt sử thông giám cương mục, bộ sách sử do Quốc Sử Quán
triều Nguyễn soạn thảo vào khoảng năm 1856–1884, sự xuất hiện của
một nhà truyền giáo phương Tây đến Việt Nam được ghi nhận trong
quyển thứ 33 [1] như
sau: “Theo
sách Dã Lục [2],
thì ngày tháng 3 năm Nguyên Hòa thứ nhất (1533) đời Lê Trang Tông,
người Tây Dương tên là I-nê-khu lén lút đến xã Ninh Cường, xã Quần
Anh huyện Nam Chân và xã Trà Lũ huyện Giao Thủy [3],
ngấm ngầm truyền giáo về tả đạo Gia tô”.
Như vậy,
nếu lấy sự kiện được ghi trong sử sách nêu trên, đến nay Tin Mừng
được rao giảng trên đất nước Việt Nam đã được 584 năm (1533–2017).
Trong hơn năm thế kỷ đó, có 40 năm Dậu.
Nhân dịp
Xuân về, đón năm mới Đinh Dậu, nhìn lại những sự kiện trong lịch sử
Giáo Hội Công Giáo tại Việt Nam diễn ra trong các năm Dậu, vừa như
một cách chào năm Đinh Dậu 2017, vừa để “ôn cố tri tân”.
***
THẾ KỶ 16
Ất Dậu 1585
Hai linh
mục Luis de Fonseca, O.P. (Bồ Đào Nha) và Grégoire de la Motte, O.P.
(Pháp) từ Malacca tới Việt Nam năm 1580, giảng đạo tại Quảng Nam
thời Chúa Nguyễn Hoàng suốt 6 năm (1580–1586). Năm 1585 (Ất Dậu),
cha Fonseca bị binh lính của chúa Nguyễn Hoàng sát hại lúc ngài đang
dâng thánh lễ. Năm sau (1586), cha Grégoire de la Motte cũng bị sát
hại.
THẾ KỶ 17
Ất Dậu 1645
– Cha
Alexandre de Rhodes (Ðắc Lộ) bị chúa Nguyễn (lúc đó là chúa Thượng
Nguyễn Phúc Lan) trục xuất vĩnh viễn khỏi Việt Nam. Ngày 3.7.1645
cha Alexandre de Rhodes (Ðắc Lộ) rời Đàng Trong đi Macau. Đến nơi,
cha bắt tay viết Tường
trình về Đàng Trong và
được ấn hành tại Paris năm 1652. Sách dày 135 trang. Đây là bản phúc
trình hoạt động của cha Đắc Lộ ở Đàng Trong trong các năm 1644–
1645. Trong sách, ngài kể lại cuộc bách hại đạo năm 1644 và cuộc tử
đạo của thày giảng Anrê Phú Yên.
– Tháng
12/1645, cha Đắc Lộ từ Macau đi Roma. Đến nơi, ngài phúc trình cho
Tòa Thánh về những tiến triển mau chóng trong việc truyền giáo tại
Việt Nam, nhất là xin Tòa Thánh gửi một số giám mục đến cánh đồng
phì nhiêu này để củng cố nền móng Giáo Hội. Cha mang theo thủ cấp
của thầy giảng Anrê Phú Yên (chịu tử đạo năm 1644 và được giáo hoàng
Gioan Phaolô II phong chân phước vào ngày 5 tháng 3 năm 2000) về cất
giữ tại trụ sở trung ương dòng Tên ở Roma.
Quý Dậu 1693
Ngày
1.7.1693, Đức cha Deydier (Hội Thừa sai Paris), đại diện Tông tòa
Đông Đàng Ngoài (nay là giáo phận Hải Phòng), qua đời. Sau đó, vào
năm 1696, Tòa Thánh đặt các giám mục xuất thân từ dòng Đa Minh đảm
nhiệm đại diện Tông tòa, bắt đầu từ Đức cha Raimondo Lezzoli, O.P.
THẾ KỶ 18
Ất Dậu 1765
– Dòng
Thánh Augustinô kết thúc hoạt động truyền giáo tại VN, sau hơn 60
năm (1701–1765), với 15 vị thừa sai – trong đó có giám mục Ilario
Costa di Gesu (1735–1754), 6 linh mục Việt Nam và 2 linh mục khác
(người Bồ Đào Nha), hoạt động tại khu vực Cửa Hàn (Đà Nẵng), làm
tuyên úy cho cộng đoàn nhỏ bé người Bồ Ðào Nha phần nhiều là những
thương gia đi qua đi lại, hoặc trú ngụ tại đó từ trước năm 1596.
– Năm Ất
Dậu 1765, chúa Trịnh Doanh (1740–1767) ra sắc chỉ cấm đạo (trước đó,
năm Giáp Tuất 1754, viên chúa Trịnh này đã có sắc chỉ cấm đạo).
– Năm
sinh của thánh Đa Minh Xuân (Dominicus Henarès), giám mục, tử đạo.
Ngài sinh năm 1765 tại Baena, Cordova, Tây Ban Nha, dòng Ða Minh.
Ngài là giám mục phụ tá Đại diện Tông tòa Ðông Ðàng Ngoài, bị xử
trảm ngày 25.6.1838 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Minh Mạng, được Ðức
Lêô XIII phong chân phước ngày 27.5.1900, và Đức Gioan Phaolô II tôn
phong hiển thánh ngày 19.6.1988.
THẾ KỶ 19
Ất Dậu 1825
Vua Minh
Mạng truyền cho quan Biện hiệp ra chỉ dụ riêng cho quan trấn Quảng
Nam về việc phải tăng cường ngăn chặn việc truyền bá đạo Công giáo.
Nội dung chỉ dụ:
“Quan
Biện Hiệp vâng lệnh hoàng thượng truyền rằng: Tà đạo của người Âu
châu làm hư hỏng lòng người. Từ lâu các thuyền Âu châu khi đến buôn
bán đã để lại nhiều thừa sai trong nước. Những đạo trưởng này dụ dỗ
và làm hư hỏng nhân dân, đồng thời sửa đổi và phá đổ các tập tục tốt
lành trong nước. Như thế không phải là một cái họa cho chúng ta sao?
Chính vì thế, chúng ta cần phải chống lại tệ nạn này để dẫn đưa nhân
dân trở về chính đạo. Vì lẽ đó, chúng tôi, các quan hằng tuân giữ
các lệnh truyền của hoàng thượng, gửi cho quan trấn thủ Quảng Nam
chỉ dụ của vua để khi có tàu Pháp đến thì phải chú tâm xem xét cẩn
thận. Hơn nữa, cũng phải canh chừng cẩn thận các quan ải trên núi,
dưới đất hay cửa biển hầu ngăn chặn bất cứ đạo trưởng Âu châu nào
lén lút xâm nhập để họ không thể trà trộn trong dân chúng và gieo
rắc tà đạo trong đất nước. Các đạo trưởng này kế tiếp nhau không
gián đoạn và coi đó như là một việc thông thường. Minh Mệnh năm thứ
sáu, ngày 1, tuần trăng thứ nhất (12.2.1825)”.
Đinh Dậu 1837
Thánh
Gioan Tân (Jean Charles Cornay), sinh năm 1809 tại Loudun, Poitiers,
Pháp, linh mục thuộc Hội Thừa sai Paris, địa phận tông tòa Tây Ðàng
Ngoài, bị xử lăng trì ngày 20.9.1837 (đời vua Minh Mạng) tại Sơn
Tây.
Ất Dậu 1885
Đức Mẹ hiện ra che chở các tín hữu Trà Kiệu trong
hai ngày 10–11.9.1885 (Ất Dậu) giữa cơn nguy biến diễn do Văn Thân
gây ra. Về biến cố này, trang tin điện tử của giáo phận Đà Nẵng
viết:
“Trà
Kiệu có một bề dày lịch sử cả đạo lẫn đời. Về lịch sử dân sự, Trà
Kiệu nguyên là kinh đô Simhapura (Sư Tử Thành) của Vương quốc Champa
vào cuối thế kỷ II sau Công nguyên. Nhiều hiện vật khảo cổ cũng đã
được phát hiện dưới lòng đất trong khu vực này; mà hiện nay, một số
tượng đá thời vương quốc Champa đã được thu tập và hình thành một
“bảo tàng Chămpa” nho nhỏ tại Nhà xứ Trà Kiệu, do công của Cha Antôn
Nguyễn Trường Thăng (Quản xứ Trà Kiệu từ 1975–1989).
Về lịch
sử giáo hội Công Giáo, Trà Kiệu và cộng đoàn Dân Chúa Trà Kiệu được
biết đến như là “chứng nhân đức tin” trong thời kỳ bách hại, với
những cuộc tấn công không ngừng nghỉ của lực lượng “Văn Thân” nhằm
triệt phá xứ đạo này. Cũng chính trong bối cảnh bị bách hại đó, Trà
Kiệu đã được biết đến vì được “ơn lạ” của Thiên Chúa: Đức
Mẹ đã hiện ra để che chở và giải thoát đoàn con cái Chúa đang trong
cơn nguy biến (ngày 10–11.9.1885). Và cũng từ biến cố này,
một ngôi đền được dựng nên trên ngọn đồi Bửu Châu (cách nhà thờ Xứ
Trà Kiệu khoảng 500 m) để kính nhớ và dâng tiến Đức Trinh Nữ Maria
với tước hiệu “Đức Mẹ Phù Hộ Các Giáo Hữu”. Năm 1958, Đức cha Phêrô
Maria Phạm Ngọc Chi, đương nhiệm giám mục Quy Nhơn, đã chọn Trà Kiệu
làm Trung tâm Thánh Mẫu của giáo phận Quy Nhơn và đã tổ chức Đại hội
Thánh Mẫu đầu tiên tại Trà Kiệu từ ngày 31.1.1959 đến ngày 2.2.1959.
Bốn năm
sau (18.1.1963), khi tân giáo phận Đà Nẵng được thành lập, tách khỏi
giáo phận Mẹ Quy Nhơn, Trà Kiệu đã trở thành Trung tâm Thánh Mẫu của
tân giáo phận. Đại hội Thánh Mẫu lần II được tổ chức từ ngày
29/5–31.5.1971 cũng do Đức cha Phêrô–Maria Phạm Ngọc Chi, lúc này là
giám mục Chính tòa giáo phận Đà Nẵng. Từ đó, hằng năm vào ngày Lễ
Đức Mẹ Đi Viếng 31.5, như một thông lệ, giáo dân từ các nơi tìm đến
với Mẹ Trà Kiệu. Đại hội Thánh Mẫu Trà Kiệu lần III chính thức được
tổ chức nhân dịp kỷ niệm 110 năm Đức Mẹ hiện ra vào chính ngày 31/5
với khoảng 35.000 khách hành hương tham dự. Kể cả trong thời kỳ khó
khăn, vẫn có những kỳ Đại Hội tiếp theo: lần IV (năm 1997), lần V
(năm Thánh 2000) và hằng năm vẫn được tổ chức với lượng người tham
dự mỗi năm một thêm đông. Mỗi kỳ đại hội, ngoài cuộc kiệu rước trọng
thể cung nghinh Mẹ Trà Kiệu từ nhà thờ xứ xuống nhà thờ Núi, những
buổi diễn nguyện tôn vinh Đức Mẹ và Thánh Lễ đại trào; cộng đoàn dân
Chúa và khách hành hương lại có dịp sống gần Mẹ và sống gần nhau
trong tâm tình tạ ơn, khẩn nguyện và quyết sống trọn vẹn đời sống
chứng tá đức tin, như các bậc tiền nhân anh dũng. Hiện nay, ngoài
dịp đại hội hằng năm (bắt đầu từ chiều 30/5 và kết thúc vào chiều
31/5), mọi ngày trong năm đều có khách hành hương từ mọi nơi đến
viếng Mẹ, đặc biệt từ đầu tháng 5 đến hết tháng 8 dương lịch”.
Tân Dậu 1861
Diễn ra
9 cuộc tử đạo (đời vua Tự Ðức) của các thánh:
– Thánh
giám mục Gioan Ven (Jean Théophane Vénard), sinh năm 1829 tại St.
Loup-sur-Thouet, Poitiers, Pháp, thuộc Hội Thừa sai Paris, đại diện
Tông tòa Tây Ðàng Ngoài, bị xử trảm ngày 2.2.1861 tại Ô Cầu Giấy (Hà
Nội).
– Thánh
Phêrô Nguyễn Văn Lựu, sinh năm 1812 tại Gò Vấp, Gia Ðịnh, linh mục
địa phận Tông tòa Tây Đàng Trong, bị xử trảm ngày 7.4.1861 tại Mỹ
Tho.
– Thánh
Giuse Tuân, sinh năm 1821 tại Trần Xá, Hưng Yên, linh mục dòng Ða
Minh, bị xử trảm ngày 30.4.1861 tại Hưng Yên.
– Thánh
Gioan Ðoàn Trịnh Hoan, sinh năm 1798 tại Kim Long, Thừa Thiên, linh
mục, bị xử trảm ngày 26.5.1861 tại Ðồng Hới (Quảng Bình).
– Thánh
Matthêu Nguyễn Văn Phượng (Ðắc), sinh năm 1808 tại Kẻ Lái, Quảng
Bình, trùm họ, bị xử trảm ngày 26.5.1861 tại Ðồng Hới (Quảng Bình).
– Thánh
Phêrô Bình (Petrus Almato), sinh năm 1830 tại San Feliz Saserra, Tây
Ban Nha, linh mục dòng Ða Minh, phục vụ tại địa phận Tông tòa Ðông
Ðàng Ngoài, bị xử trảm ngày 1.11.1861 tại Hải Dương.
– Thánh
giám mục Vinh (Berrio Ochoa), sinh năm 1827 tại Elorrio (Vizcaya),
Tây Ban Nha, dòng Ða Minh, đại diện Tông tòa Ðông Ðàng Ngoài, bị xử
trảm ngày 1.11.1861 tại Hải Dương.
– Thánh
giám mục Thể (Etienne Théodore Cuénot), sinh năm 1802 tại Belieu,
Besançon, Pháp, thuộc Hội Thừa Sai Paris, đại diện Tông tòa Ðông
Ðàng Trong, chết rũ tù ngày 14.11.1861 tại Bình Ðịnh.
– Thánh
Giuse Nguyễn Duy Khang, sinh năm 1832 tại Trà Vi, Nam Ðịnh, thầy
giảng dòng ba Ða Minh, bị xử trảm ngày 6.12.1861 tại Hải Dương.
THẾ KỶ 20
Kỷ Dậu 1909
– Ngày
11.4.1909, Ðức giáo hoàng Piô X phong chân phước cho 15 vị Tử đạo
Việt Nam (xếp theo năm tử đạo):
* Dưới
đời vua Thiệu Trị:
+ Inê Lê
Thị Thành (Ðê), sinh năm 1781 tại Bái Ðền, Thanh Hóa, giáo dân, chết
rũ tù ngày 12.7.1841 tại Nam Ðịnh.
+ Phêrô
Phạm Khanh, sinh năm 1780 tại Hòa Duệ, Nghệ An, linh mục, bị xử trảm
ngày 12.7.1842 tại Hà Tĩnh.
* Dưới
đời vua Tự Đức:
+ Giuse
Nguyễn Văn Lựu, sinh năm 1790 tại Cái Nhum, Vĩnh Long, trùm họ, chết
rũ tù ngày 2.5.1854 tại Vĩnh Long.
+ Anrê
Nguyễn Kim Thông (Năm Thuông), sinh năm 1790 tại Gò Thị, Bình Ðịnh,
Thầy giảng, chết rũ tù ngày 15.7.1855 tại Mỹ Tho.
+
Lôrensô Nguyễn Văn Hưởng, sinh năm 1802 tại Kẻ Sài, Hà Nội, linh
mục, bị xử trảm ngày 13.2.1856 tại Ninh Bình.
+ Phaolô
Lê Bảo Tịnh, sinh năm 1793 tại Trịnh Hà, Thanh Hóa, linh mục, bị xử
trảm ngày 6.4.1857 tại Bảy Mẫu (Nam Định).
+ Micae
Hồ Ðình Hy, sinh năm 1808 tại Như Lâm, Thừa Thiên, giáo dân, Quan
Thái Bộc, bị xử trảm ngày 22.5.1857 tại An Hòa (Huế).
+
Phanxicô Trần Văn Trung, sinh năm 1825 tại Phan Xã, Quảng Trị, giáo
dân, Cai đội, bị xử trảm ngày 6.10.1858 tại An Hòa (Huế).
+ Phaolô
Lê Văn Lộc, sinh năm 1830 tại An Nhơn, Gia Ðịnh, linh mục, bị xử
trảm ngày 13.2.1859 tại Gia Ðịnh.
+
Emmanuel Lê Văn Phụng, sinh năm 1796 tại Ðầu Nước, Cù Lao Giêng,
giáo dân, trùm họ, bị xử trảm ngày 31.7.1859 tại Châu Ðốc (An
Giang).
+ Phêrô
Ðoàn Công Quý, sinh năm 1826 tại Búng, Gia Ðịnh (nay thuộc Bình
Dương), linh mục, bị xử trảm ngày 31.7.1859 tại Châu Ðốc (An Giang).
+ Phêrô
Bắc (Pierre Franҫois Neron), sinh năm 1818 tại Bornay, Saint–Claude,
Pháp, Hội Thừa sai Paris, linh mục địa phận tông tòa Tây Ðàng Ngoài,
bị xử trảm ngày 3.11.1860 tại Sơn Tây.
+
Matthêu Nguyễn Văn Phượng (Ðắc), sinh năm 1808 tại Kẻ Lái, Quảng
Bình, trùm họ, bị xử trảm ngày 26.5.1861 tại Ðồng Hới (Quảng Bình).
+ Ðức
cha Thể (Etienne Théodore Cuénot), sinh năm 1802 tại Belieu,
Besançon, Pháp, giám mục Hội Thừa Sai Paris, địa phận tông tòa Ðông
Ðàng Trong, chết rũ tù ngày 14.11.1861 tại Bình Ðịnh.
+ Giuse
Nguyễn Duy Khang, sinh năm 1832 tại Trà Vi, Nam Ðịnh, Thầy giảng
dòng ba Ða Minh, bị xử trảm ngày 6.12.1861 tại Hải Dương.
– Ngày
12.6.1909, ba linh mục của giáo phận Vinh bị chính quyền thực dân
Pháp bắt, đày đi Côn Đảo vì tham gia chống Pháp: Đậu Quang Lĩnh, thư
ký Toà giám mục; Nguyễn Thần Đồng, chính xứ Chính toà Vinh; Nguyễn
Văn Tường, quản lý Nhà chung Xã Đoài.
Quý Dậu 1933
– Ngày
10.1.1933, Đức giáo hoàng Piô XI bổ nhiệm linh mục Gioan Baotixita
Nguyễn Bá Tòng (Địa phận tông tòa Sài Gòn) làm giám mục phó đại diện
Tông tòa Phát Diệm, và ngày 11.6.1933, đã diễn ra lễ tấn phong giám
mục tại Ðền thánh Phêrô, do Ðức giáo hoàng Piô XI chủ phong.
– Đức
cha Nguyễn Bá Tòng trở thành vị giám mục Việt Nam tiên khởi, sau
đúng 400 năm Tin Mừng được rao giảng tại Việt Nam (1533–1933).
Ất Dậu 1945
– Ngày
14.6.1945, Tòa Thánh bổ nhiệm linh mục Anselmô Lê Hữu Từ, bề trên
Ðan viện Xitô Phước Sơn (Nho Quan), làm giám mục đại diện Tông tòa
Phát Diệm. Ngài là vị giám mục thứ năm người Việt Nam, sau bốn vị
trước đó: Đức cha G.B. Nguyễn Bá Tòng (1933), Đức cha Đa Minh Maria
Hồ Ngọc Cẩn (1935), Đức cha Phêrô Martinô Ngô Đình Thục (1938), Đức
cha Gioan Maria Phan Đình Phùng (1940).
– Ngày
29.10.1945, ngài được Đức cha G.B. Nguyễn Bá Tòng (chủ phong) và Đức
cha Đa Minh Maria Hồ Ngọc Cẩn (phụ phong) tấn phong giám mục tại
Phát Diệm.
Đinh Dậu 1957
– Sau
169 năm rời khỏi Việt Nam (1788–1957), năm 1957, các tu sĩ Dòng Tên
được Giáo hội Việt Nam mời trở lại. Ngày 13.9.1958, Dòng Tên nhận
trách nhiệm điều khiển Giáo hoàng Học viện Thánh Piô X tại Ðà Lạt,
đồng thời khuếch trương nhiều hoạt động khác nhau trong các lãnh vực
văn hóa xã hội.
– Ngày
5.7.1957, Đức giáo hoàng Piô XII thiết lập giáo phận Tông tòa Nha
Trang, và đặt Đức cha Paul Raymond– Marie–Marcel Piquet, thuộc Hội
Thừa sai Paris, làm đại diện Tông tòa tiên khởi. Giáo phận mới được
tách từ giáo phận Tông tòa Quy Nhơn (gồm hai tỉnh Khánh Hòa và Ninh
Thuận) và từ giáo phận Tông tòa Sài Gòn (gồm hai tỉnh Bình Thuận và
Bình Tuy).
Kỷ Dậu 1969
Dòng
Phanxicô Việt Nam được nâng lên hàng Tỉnh dòng, sau 40 năm được
thành lập tại Việt Nam (1929–1969).
Tân Dậu 1981
– Ngày
24.3.1981, Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II bổ nhiệm linh mục Phanxicô
Xaviê Nguyễn Văn Sang, chính xứ nhà thờ Chính tòa Hà Nội, làm giám
mục phụ tá Tổng giáo phận Hà Nội.
– Ngày
26.3.1981, Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II bổ nhiệm linh mục Phêrô
Trần Thanh Chung, nguyên giám đốc Tiểu chủng viện Thừa sai Kon Tum,
làm giám mục phó giáo phận Kon Tum.
– Ngày
1.5.1981, Hội đồng Giám mục họp thường niên tại Hà Nội.
– Ngày
19.6.1981 Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II bổ nhiệm linh mục Giuse
Trinh Chính Trực, chính xứ nhà thờ Chính tòa Ban Mê Thuột, làm giám
mục phó giáo phận Ban Mê Thuột.
– Ngày
15.12.1981, Ðức cha Giuse Nguyễn Thiện Khuyến, giám mục phó giáo
phận Phát Diệm từ trần, thọ 81 tuổi.
Quý Dậu 1993
– Ngày
1.2.1993, phái đoàn Toà Thánh, do Đức ông Claudio Celli dẫn đầu,
sang Việt Nam.
– Ngày
22.3.1993, Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II bổ nhiệm linh mục Gioan B.
Phạm Minh Mẫn, giám đốc Đại chủng viện Thánh Quý (Cần Thơ), làm giám
mục phó giáo phận Mỹ Tho.
– Ngày
18.10.1993, Đại hội Thường niên HĐGMVN lần đầu tiên họp tại Sài Gòn.
THẾ KỶ 21
Ất Dậu 2005
– Ngày
19.2.2005, Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II bổ nhiệm linh mục Phanxicô
Xaviê Lê Văn Hồng, chính xứ Phú Hậu (Huế), làm giám mục phụ tá Tổng
giáo phận Huế. Ngài là vị giám mục Việt Nam cuối cùng được Đức giáo
hoàng Gioan Phaolô II bổ nhiệm, vì gần hai tháng sau, ngày 2.4.2005,
Đức giáo hoàng qua đời.
– Ngày
8.11.2005, Đức tân giáo hoàng Bênêđictô XVI bổ nhiệm linh mục Giuse
Võ Đức Minh, chính xứ Chính tòa Đà Lạt, làm giám mục phó giáo phận
Nha Trang. Ngài là vị giám mục Việt Nam đầu tiên được bổ nhiệm dưới
thời Đức tân giáo hoàng Bênêđictô XVI (được bầu làm giáo hoàng ngày
19.4.2005).
––––––––––––––––––––––––
(*) Bài
đã đăng trên Bản tin Hiệp
Thông số 98 của
Hội đồng Giám mục Việt Nam
[1]
Quyển thứ 33 của Khâm
Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục – Chính Biên,
chép sử
“Từ Quý Mão, năm Cảnh Trị thứ nhất (1633)
đến Ất
Mão, Lê Gia Tông, năm Đức Nguyên thứ hai (1675), gồm 13 năm”.
[2] Sách
Dã Lục: sách do tư nhân, chứ không do sử quan viết (chính biên).
[3] Nam
Chân và Giao Thủy nay thuộc tỉnh Nam Định.
Thành Thi
|